Nhà khoa học tự tin trên thương trường
(KHCN-03/7/2017): Hơn 30 năm qua, bằng niềm đam mê của mình, Tiến sỹ Lê Văn Tri, Tổng Giám đốc Công ty Công nghệ sinh học Hà Nội, Chủ tịch Hiệp hội phân bón sinh học Việt Nam đã dành hết tâm sức cho việc nghiên cứu, sản xuất các chế phẩm sinh học và phân phức hợp hữu cơ vi sinh phục vụ nông nghiệp nước nhà và góp phần xử lý, cải tạo môi trường sinh thái. 
* Đam mê sáng chế, gặt hái thành công 
Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cậu học trò Lê Văn Tri đã đam mê và chứng tỏ được tư chất thông minh với những môn khoa học tự nhiên, nhất là môn Toán và môn Sinh học. Chính vì vậy, khi trúng tuyển vào trường Ðại học Tổng hợp Kisinhop của Liên Xô (cũ), chàng thanh niên xứ Thanh đã chọn khoa nghiên cứu bộ môn vi sinh vật và sinh lý thực vật. Hồi ức trong ông về quãng thời gian ở xứ sở Bạch Dương là những ngày tháng miệt mài trên giảng đường và phòng thí nghiệm. Chính những nỗ lực không mệt mỏi đó đã tạo nền tảng giúp ông gặt hái được nhiều thành công trong con đường đến với khoa học. 
Năm 1973, khi chỉ hơn 20 tuổi, chàng sinh viên Lê Văn Tri, đã đọc hết những gì Wattson - Crick viết về cấu trúc DNA (cấu trúc này đã được nhận giải thưởng Nobel vào năm 1962), và tình cờ phát hiện ra một vấn đề mà hai nhà khoa học này chưa đề cập đến, đó là các sự phân bố khác của bốn gốc bazơ trên DNA. Anh đã nêu giả thuyết "Cấu trúc Z-DNA" và trình bày báo cáo trước các thầy giáo và các bạn cùng khoa. Báo cáo này tiếp tục được hoàn thiện sau đó và đã được nhận giải Nhì toàn Liên bang Nga. 
Năm 1975, chàng thanh niên Lê Văn Tri trở về nước, tham gia công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Ông được phân công làm việc tại Trung tâm nghiên cứu vi sinh vật - Viện Khoa học Việt Nam. Năm 1988, ông bảo vệ Luận án tiến sĩ sinh học tại Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam với công trình "Nghiên cứu điều kiện sản xuất Gibberellin A3 trên môi trường xốp từ một số chủng nấm Fusarium moniliforme Sheldon và ứng dụng cho một số cây trồng ở Việt Nam". Ðây là đề tài trong chương trình cấp Nhà nước mà nhiều người đã nghiên cứu không thành công và ông đã kết thúc đề tài đó bằng ba năm miệt mài nghiên cứu độc lập với phương pháp thu nhận Gibberellin dạng bột thô và tinh chất. Công trình đã được nhận Bằng độc quyền sáng chế, tấm bằng sáng chế đầu tiên trong sự nghiệp khoa học của ông. 
Thành công nối tiếp thành công, tuy nhiên, khi những niềm vui, niềm tự hào qua đi, ông luôn trăn trở với suy nghĩ phải làm gì để những kết quả nghiên cứu được áp dụng ngay trong thực tiễn và không bị chìm vào quên lãng. Ông bắt đầu tìm kiếm cơ hội tiến hành việc áp dụng các nghiên cứu của mình vào thực tế, đem lại hiệu quả cao trong lĩnh vực nông nghiệp. Ðây cũng chính là tiền đề để năm 1991, ông thành lập doanh nghiệp khoa học đầu tiên: "Xí nghiệp Liên doanh khoa học và sản xuất Fitohoocmon", trên nền tảng nghiên cứu những vấn đề mang tính đặc thù của nông nghiệp Việt Nam. 
* Từ nhà khoa học đến doanh nhân 
Là một nhà khoa học chuyển sang làm kinh doanh khá sớm ( từ năm 1991) Tiến sỹ Tri chia sẻ: “Tôi rất tự tin trên thương trường vì tôi biết mình có sản phẩm tốt và có địa bàn ứng dụng rộng. Tôi luôn xác định doanh nghiệp của mình phải đặt khoa học làm nền tảng. Nếu sản phẩm này thất bại lại có thể nghiên cứu một sản phẩm khác vì vốn khoa học vẫn còn đó”. 
Từ những thành công ban đầu, ông tiếp tục nghiên cứu, sáng chế và sản xuất thêm nhiều chế phẩm vi sinh phục vụ nông nghiệp. Trước sự ra đời của chương trình mía đường quốc gia, nhận thấy lượng bã bùn mía thải ra sau khi ép tại các nhà máy đường là rất lớn, nếu không có biện pháp xử lý sẽ là nguồn rác thải gây ô nhiễm môi trường. Ông cùng các cộng sự trong công ty đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: "Công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế thải, phụ phẩm mía đường". Việc sản xuất và tiêu thụ phân phức hợp hữu cơ vi sinh được tiến hành ngay tại các nhà máy đường. Hiện nay, công nghệ này đã được chuyển giao ứng dụng tới khoảng 80 cơ sở tại các địa phương trong cả nước góp phần giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho hàng nghìn lao động. 
Để phát triển một nền nông nghiệp xanh, sạch, cần phải sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý môi trường. Ðó cũng là phương thức hiệu quả nhằm làm giảm chi phí sản xuất so với việc sử dụng hóa chất và kháng sinh. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu của ông đã nghiên cứu và sản xuất thành công một số chế phẩm sinh học từ quy trình sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh Fitohoocmon. 
Có thể kế đến, công nghệ sản xuất phụ gia bê tông BiFi bằng công nghệ sinh học. Công nghệ này đã được chuyển giao ổn định cho hơn 60 nhà máy sản xuất phân bón sinh học trong cả nước và sản phẩm đã cung ứng cho các công trình xây dựng lớn của đất nước. Công nghệ xử lý rơm rạ sau thu hoạch làm phân bón hữu cơ tại ruộng bằng chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR đang được triển khai rộng ở hầu hết các tỉnh, thành. 
Từ kết quả đạt được của công nghệ xử lý rơm rạ bằng chế phẩm Fito-Biomix RR, Tiến sỹ Tri tập trung vào hai hướng nghiên cứu mới đó là sản xuất giá thể mạ khay công nghiệp và giá thể sản xuất rau mầm từ mùn rơm rạ. Đối với giá thể mạ khay, bước đầu công ty của ông đã triển khai mô hình sản xuất mạ khay công nghiệp từ mùn rơm rạ tại một số địa phương như: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định… Việc áp dụng công nghệ này giảm 30% chi phí sản xuất mạ, giá thể mạ khay sản xuất từ rơm rạ và đất tại địa phương. Vì vậy, đây có thể coi là một bước đột phá trong sản xuất mạ khay công nghiệp và mạ trên nền đất cứng phục vụ cho cấy máy và cấy tay nhằm hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. 
“Việc sản xuất rau mầm từ mùn rơm rạ đến nay cũng đã cho kết quả tốt. Áp dụng công nghệ này sẽ giải quyết được vấn đề khó khăn về nguồn cung cấp giá thể. Người dân ai cũng có thể tự sản xuất trồng rau mầm tại nhà với quy trình đơn giản, dễ làm và giá thành hạ (chỉ khoảng 2.000 đồng/kg, thấp hơn 5 lần so với mua giá thể trên thị trường)”, ông Tri cho biết thêm. 
Tính đến thời điểm hiện nay, có thể nói ông là người sở hữu nhiều bằng sáng chế khoa học nhất liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp. Mới đây, ông vinh dự được nhận giải nhất VIFOTEC với công trình “Thâm canh trồng sả trên cùng đất chịu ảnh hưởng của biến đối khí hậu để thu tinh dầu phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ bã thải sau chưng cất”. Ông đã đoạt giải thưởng của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới WIPO năm 2016 cũng với công trình đó. 
Vinh dự hơn, ông còn được ghi danh trong kỷ lục Guiness Việt Nam và châu Á là người có nhiều bằng sáng chế nhất trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Ngoài ra, Tiến sỹ Lê Văn Tri còn công bố hàng chục công trình khoa học ở cả trong và ngoài nước. Ông còn là chủ biên của10 đầu sách, nhiều công trình khoa học và là tác giả của 17 bằng độc quyền sáng chế sinh học từ năm 1991 đến nay. 
Những thành quả đáng ghi nhận qua bao tháng năm miệt mài nghiên cứu khoa học dường như vẫn chưa làm thỏa mãn đam mê nghiên cứu của Tiến sỹ Lê Văn Tri. Ông vẫn đang nỗ lực từng ngày, từng giờ mang trí tuệ và tâm sức nghiên cứu thêm nhiều sản phẩm mới, hữu ích phục vụ cho nền nông nghiệp nước nhà./.
Theo TTXVN
 

 

 
 

 Các đơn vị khác